|
Căn bệnh "cổ kính"
Bệnh cúm (còn có tên gọi khác là innluenza) đã từng được loài người biết tới từ vài nghìn năm trước. Những mô tả về triệu chứng nhiễm căn bệnh rất giống bệnh cúm đã được ghi lại trong các công trình của Hippocrates (ông đã kể về dịch bệnh xảy ra năm 412 trước CN). Có lẽ dịch cúm đầu tiên đã được nhà Sử học La Mã Titus Livius nhắc tới - nó xảy ra vào năm 212 trước CN...
Tới thế kỷ XVI, vị bác sĩ người Anh lừng danh John Keys (còn được biết tới với tên họ đã được La tinh hóa là Johannes Caius) là người đầu tiên mô tả chi tiết diễn tiến căn bệnh cúm (ông đặt cho nó cái tên bệnh "toát mồ hôi") và thậm chí còn đưa ra phương thức chữa bệnh - nghỉ ngơi và cấm không được làm bất cứ việc gì có thể khiến đổ mồ hôi... Bác sĩ Keys cho rằng, căn bệnh "toát mồ hôi" nhiễm vào con người do ăn phải một số loại thực phẩm nào đó. Nhà Sử học Michael B. A. Oldstone, tác giả của công trình nghiên cứu khá công phu "Virus, dịch hạch và lcịh sử" (Viruses, Plagues, and History), nhận xét rằng, cách nhìn của bác sĩ Keys không phải là độc nhất vô nhị. Tại Châu Âu, bệnh cúm đã được biết tới từ lâu dưới cái tên "cơn sốt Italatia": nước Italia vốn được coi là miền đất ấm nóng nhất của châu Âu và vì thês, những người bệnh bị nhiệt độ cao đã cho rằng, họ ốm là vì bị lây nhiễm nóng từ đó. Tại Đức, người ta để ý tới việc dịch cúm bùng phát vào mùa lạnh trong năm và đi tới kết luận là, nguyên nhân gây bệnh là các loại rau quả muối và cá, những thực phẩm chính trong bữa ăn của người Đức vào mùa đông. Tới thế kỷ XVI, châu Âu đã phải trải qua ít nhất là hai dịch cúm lớn - vào năm 1510 và năm 1580. Khi đó căn bệnh này được gọi là bệnh influenza (influenza di freddo trong tiếng Italia có nghĩa là "bị ảnh hưởng của lạnh"). Tên gọi khác của bệnh đã xuất hiện trong thế kỷ XX - từ bệnh cúm trong nhiều thứ tiếng châu Âu có nguồn từ tiếng Pháp grippe, có nghĩa là mắc phải, nhiễm phải... Trong mỗi một thế kỷ tính trung bình ở châu Âu trước kia có khoảng 3-4 lần phải đối mặt với đại dịch cúm (thí dụ như trong các năm 1173, 1580, 1675, 1729, 1742, 1781, 1831, 1857, 1874...) Bệnh cúm đã từng được chữa như chữa cho các bệnh nhiễm lạnh bình thường khác - bệnh nhân được chỉ dẫn uống nhiều nước, mật ong và một số loại nước nấu với cỏ có tính năng chữa bệnh....
Đại dịch khó hiểu
Tuy nhiên, không ít nhà nghiên cứu, thí dụ như nhà viết sử y học nổi tiếng Rian Balfour, lại không cho rằng, những đại dịch như kể ở trên là đại dịch cúm vì không có những dữ liệu khẳng định rằng, những đại dịch như thế do chính virus cúm gây nên. Họ cho rằng, đại dịch cúm thực sự đã chỉ xảy ra vào năm 1871, khi hai phần ba dân số thành Rome và ba phần tư dân số ở Vương quốc Anh phải lên giường nằm vì cúm. Đại dịch đó đã lây cả sang châu Phi và châu Mỹ và kéo dài ít nhất là tới năm 1789. Từ đó trở đi dịch cúm đã diễn ra thường xuyên một cách đáng sợ. Thí dụ như năm 1889 đã xảy ra dịch "cúm Nga" xuất phát từ nước Nga Sa hoàng và lây sang châu Âu. Và trong trường hợp này, nước Nga cũng chỉ là "địa điểm trung chuyển" vì virus đó đến Nga từ vùng Trung Á. Đó là đại dich cúm khủng khiếp nhất thế kỷ XIX, đã làm chết từ 750 nghìn tới 1 triệu người.
Trong hai năm 1918 - 1919, đại dịch cúm Tây Ban Nha đã làm chết khoang 40 - 50 triệu người, thậm chí theo một số nguồn tư liệu, con số này có thể đã lên tới 50 -100 triệu người (trong chiến tranh thế giứoi thứ nhất chỉ có 15 triệu người chết; đại dịch AIDS trong thời gian qua cũng mới làm chết khoảng gần 14 triệu người). Cúm Tây Ban Nha nguy hiểm đặc biệt là bởi khoảng 50% những người ở gần người bị cúm bị lây bệnh, và khi bị lâ có triệu chứng rất trầm trọng, khác hẳn cúm thường. Cúm Tây Ban Nha đã lan ra khắp toàn cầu và thực sự đã gây nên một thảm họa nhân đạo mà cho tới hôm nay, đó vẫn là thí dụ hay được viện dẫn nhất để làm phép so sánh...
Đáng tiếc là cho tới khi đó, loài người còn chưa biết cách chữa bệnh cúm và ngay cả các bác sĩ cũng chỉ mới đoán già đoán non được về các nguyên nhân làm nó nảy sinh...
Thủ phạm là virus
Một cuộc cách mạng trong y học đã chỉ diễn ra sau những công trình nghiên cứu của nhà bác học người Pháp Louis Pasteur (1822 - 1895) và nhà bác học người Đức Robert Koch (1843 - 1910) với những phát hiện về mối liên hệ giữa các vi sinh vật và các bệnh truyền nhiễm. Năm 1892, nhà vi sinh học người Đức Richard Pfeiffer (1858 - 1945), trong khi nghiên cứu tìm hiểu những nguyên nhân đã gây nên dịch cúm ở Đức năm 1890, đã tách được từ niêm dịch các bệnh nhân loại vi khuẩn mà về sau được gọi bằng cái tên Bacillus influenzae (có thể dịch là trực trùng cúm). Hai thập niên sau đó loại vi khuẩn này đã được coi là tác nhân chính gây nên bệnh cúm. Tuy nhiên, sai lầm của lý thuyết này đã trở nên sáng tỏ vào những năm 1918 - 1919, khi người ta phát hiện ra rằng, Bacillus influenzae chỉ tìm được ở một số không nhiều những bệnh nhân cúm. Khi đó, các bác sĩ lại đưa ra một giả thuyết là, loại vi khuẩn này chỉ chịu trách nhiệm về quá trình phát triển những biến chứng ở phổi, thường hay xuất hiện khi ta mắc bệnh cúm. Lại còn có một giả thuyết nữa được khá nhiềue chuyên gia đồng tình là: tác nhân gây nên bệnh cúm có kích thước siêu nhỏ vì tất cả các loại phin lọc có thời đó đều không "săn" được chúng (việc này đã được hai nhà bác học người Pháp là Nicole và Le Baili chứng minh bằng thực nghiệm năm 1918). Một trong những nguyên nhân dẫn tới hiện tượng này la trang thiết bị thí nghiệm quá thấp kém. Tình hình chỉ thay đổi vào những năm 30 của thế kỷ trước, sau khi các loại kính hiển vi có công suất lớn hơn được chế tạo (tuy vậy, cũng phải tới những năm 50 của thế kỷ trước, người ta mới có thể nhìn thấy virus sau khi sáng chế ra kính hiển vi điện tử).
Năm 1931, nhà khoa học người Mỹ Richard Shope, trong khi nghiên cứu các căn bệnh ở lợn, đã phát hiện ra rằng, trong nhiều trường hợp, tác nhân gây bệnh là virus (lần đầu tiên các loại virus được mô tả là vào năm 1898 và tới năm 1910 các chuyên gia mới chứng minh được rằng, các loại virus đã gây nên một số căn bệnh ở con người). Hai năm sau, ba nhà khoa học người Anh Wilson Smith, Christofer Andrews và Patric Laidlaw đã tách ra được loại virus gây ra bệnh cúm ở người (nó được đặt tên là Mixovirus influenza - đó là loại virus cúm típ A, chịu trách nhiệm về đại đa số các đại dịch, gây bệnh cả ở chim chóc và các loại sinh vật khác). Tiếp theo, các nhà khoa học đã phát hiện ra thêm nhiều loại virus khác nữa thuộc típ B (nhà nghiên cứu Thomas Franis năm 1940 đã phát hiện ra rằng, loại virus này chỉ gây bệnh ở người và thường gây nên những triệu chứng cúm nhẹ) và típ C (nhà nghiên cứu Richard Taylor năm 1947 đã tìm ra loại virus ít có hại nhất này). Năm 1940 đã có một phát minh quan trọng - virus cúm có thể được cấy trên các phôi gà (việc này đã cho phép tiến hành những ca tiêm chủng đầu tiên vào năm 1946).
Tuy nhiên, lý thuyết vi khuẩn lúc đó vẫn được phổ biến quá rộng rãi: trong suốt một thời gian dài người ta vẫn cho rằng, virus cũng chỉ là một dạng tương tự như vi khuẩn, chẳng qua là có kích cỡ nhỏ hơn nhiều. Thái độ của giới khoa học chỉ thay đổi vào nửa cuối những năm 40 của thế kỷ trước - trong hai năm 1946 và 1947 đã công bố những công trình nghiên cứu chứng minh rằng, các loại virus tự chúng đã là những tác nhân gây bệnh rất mạnh và cách thức hoạt động của chúng khác hẳn so với vi khuẩn.
Hoàng Phương
Theo Báo An Ninh số 22 Tháng 10 - 2009
|